Share LinkedIn Facebook Twitter

Tin tức và Ấn phẩm

Bài viết & Ấn phẩm

200 triệu đồng và 3 tháng
(Thời báo Kinh tế Sài Gòn, số số 38-2013, ra ngày 19/9/2013)
LƯƠNG VĂN TRUNG – LUẬT SƯ THÀNH VIÊN
16/09/2016

Phá sản Doanh nghiệp đã được luật hóa lần đầu tiên bằng Luật Phá sản Doanh nghiệp do Quốc hội thông qua ngày 30 tháng 12 năm 1993 và được thay thế bằng luật cùng tên ngày 15 tháng 6 năm 2004. Tờ trình về Dự án Luật Phá sản (sửa đổi) đã được Tòa án nhân dân tối cao trình lên Ủy ban Thường vụ Quốc hội (UBTVQH) để thảo luận. Một trong những nội dung được UBTVQH và dư luận quan tâm là dấu hiệu lâm vào tình trạng phá sản của doanh nghiệp được quy định tại Điều 3 cả dự luật này là “Doanh nghiệp, hợp tác xã không có khả năng thanh toán được các khoản nợ đến hạn từ 200 triệu đồng Việt Nam trở lên trong thời gian ba tháng, kể từ ngày chủ nợ có yêu cầu thì coi là lâm vào tình trạng phá sản”.

Về cơ bản, ý kiến của một số thành viên UBTVQH cho rằng các tiêu chí này là “đơn giản quá” hoặc “không rõ mục đích” hoặc tiêu chí về số tiền và thời hạn là chưa phù hợp với các doanh nghiệp có quy mô vốn, số tiền nợ khác nhau và có thể đưa hơn 90% doanh nghiệp hiện nay vào tình trạng phá sản về mặt định nghĩa. Theo tác giả, quy định như dự thảo hiện nay là cơ bản là hợp lý và thông lệ với một vài ngoại lệ.

Thế nào là phá sản?

Về cơ bản, phá sản là sự mất khả năng thanh toán. Do đó, việc định nghĩa về những dấu hiệu của sự mất khả năng thanh toán là cần thiết. Sự mất khả năng thanh toán thường được dựa vào tiêu chí về số tiền không thể thanh toán được, thời gian không thanh toán được và/hoặc là tình trạng tổng tài sản còn lại của doanh nghiệp thấp hơn tổng số nợ phải trả. Ba tiêu chí này hoàn toàn phù hợp với các khái niệm về kinh tế học. Đó là lý do mà trong đời sống kinh doanh thường có thuật ngữ “phá sản về mặt kỹ thuật” (technical bankruptcy).

Về mặt pháp lý, các tiêu chí của sự mất khả năng thanh toán cũng được áp dụng từ quan điểm kinh tế.  Tuy nhiên, tiêu chí mất khả năng thanh toán trong luật cần được cá thể hóa vì đặc thù của một loại hình thủ tục tại tòa án (tố tụng) hoặc liền trước (tiền tố tụng) và, trên hết là vì mục đích bảo vệ con nợ và chủ nợ hiện hữu, ngăn chặn các hành vi kinh doanh khi đã lâm vào tình trạng phá sản mà có thể tạo thêm nhiều khoản nợ mới gây thêm sự bất ổn cho đời sống kinh tế - xã hội. Đồng thời, việc phá sản nói chung thường mang tính hoặc tự nguyện (voluntary bankruptcy) hoặc phá sản bắt buộc (involuntary bankruptcy) và dẫn đến hai hệ quả: phá sản [để] đóng cửa (liquidating bankruptcy) hoặc phá sản [để] tái cấu trúc (reorganizing bankruptcy) như luật pháp của nhiều quốc gia quy định.

Tính hợp lý của Điều 3 của Dự thảo

Trên cách tiếp cận đó, việc nêu khoản tiền và thời hạn không thanh toán là cách thức hợp lý và được nhiều quốc gia áp dụng. Ngay cả một nền kinh tế lớn hàng đầu thế giới như nước Anh, Đạo luật về Mất Khả năng Thanh toán 1986 (Insolvency Act 1986) quy định rằng một công ty được coi là không thể thanh toán nợ nếu (i) nếu chủ nợ đã gửi giấy đòi nợ (theo đúng mẫu biểu) tới trụ sở đăng ký của công ty yêu cầu thanh toán một khoản nợ quá hạn trên 750 Bảng Anh mà công ty không thanh toán sau 3 tuần kể từ ngày gửi giấy đó; hoặc (ii) các yêu cầu thi hành án đối với khoản nợ không được thực hiện đầy đủ, hoặc có xác nhận về việc không thể thi hành án đối với khoản nợ hoặc sau thời hạn thanh toán của trái phiếu; hoặc (iii) tổng tài sản còn lại của doanh nghiệp thấp hơn tổng số nợ phải trả.

Vì vậy, việc nêu con số 200 triệu không phải là không hợp lý, kể cả nếu xét theo tiêu chí có những doanh nghiệp có vốn hàng trăm, hàng ngàn tỷ. Lý do thứ nhất: doanh nghiệp có vốn và tài sản càng lớn mà không có khả năng thanh toán khoản nợ nhỏ thì càng chứng tỏ sự mất khả năng thanh toán. Tất nhiên, chúng ta cần loại trừ tâm lý hay ý chí chây ỳ của doanh nghiệp con nợ. Nói cách khác, số tiền nợ quá hạn nên dựa vào tiêu chí là “một công ty như vậy mà không thể không trả nổi một số tiền nhỏ như thế thì không thể coi là có khả năng thanh toán”. Lý do thứ hai: quy định này cũng phù hợp ở Việt Nam khi không ít doanh nhân có tâm trạng hoặc chủ ý chây ỳ trả nợ, coi thường quyền lợi của chủ nợ và cả pháp luật. Một thực tế đau lòng là có nhiều doanh nghiệp ngang nhiên thách thức chủ nợ của mình đi kiện để đòi nợ dù họ vẫn có thể thanh toán hoặc họ có thể xoay xở để thanh  toán nợ. Đau lòng hơn là có nhiều chủ nợ đã phá sản vì không đòi được nợ từ con nợ không hề bị tuyên phá sản.

Đồng thời, thời hạn 3 tháng là quá đủ cho ý thức hoặc nỗ lực của một con nợ để xoay xở thanh toán nếu con nợ đó thực sự có thiện chí thanh toán cho chủ nợ. Ba tháng đó còn là thời gian để con nợ có thể làm việc một cách thiện chí và xây dựng và chủ nợ cho việc thanh toán. Từ thực tiễn tư vấn pháp lý, tác giả đã gặp nhiều trường hợp nhiều con nợ cố tình không trả nợ (thậm chí là thách thức chủ nợ khởi kiện) vì họ biết rằng đây chỉ là một quan hệ dân sự, thời gian tố tụng có thể kéo dài vài năm, thời gian thi hành án cũng vậy. Bởi thế, họ cứ vô tư chiếm dụng vốn của chủ nợ với một mức lãi suất không cao hơn lãi suất thị trường. Nói cách khác, nhiều con nợ lựa chọn cách chiếm dụng vốn của chủ nợ hơn là trả nợ và đi vay mới vì chưa chắc con nợ đã vay được khoản nợ mới, đó là chưa nói đến việc lãi suất có thể cao hơn nhiều khoản nợ hiện tại (theo thỏa thuận hoặc theo bản án của tòa án).

Vì vậy, tác giả ủng hộ quan điểm đưa ra con số 200 triệu này và 3 tháng như dự thảo xét theo khía cạnh kinh tế học, mục đích ngăn chặn sự coi thường các cam kết và pháp luật của con nợ và nhằm tạo ra một trường kinh doanh và quan hệ tài sản lành mạnh và đạo đức hơn.

Vài kiến nghị

Theo báo cáo gần đây, hiện nay đang có món nợ “đồng lần” 91.000 tỷ Đồng là khoản nợ đọng xây dựng cơ bản từ nhà nước đối với doanh nghiệp. Khoản nợ này tăng sự trầm trọng của doanh nghiệp về khả năng thanh toán các khoản nợ từ ngân hàng, đối tác cung cấp vật liệu, người lao động, v.v. TS Trần Đình Thiên, viện trưởng Viện Kinh tế VN, cho rằng chính nợ đọng XDCB sinh ra nợ xấu và gây khó khăn dây chuyền cho cả Nhà nước và doanh nghiệp. Ông Thiên cũng nói có rất nhiều doanh nghiệp đã và đang chờ chết vì chưa thu được khoản nợ này. Để xử lý số vốn mà Nhà nước nợ doanh nghiệp trong XDCB, Bộ Tài chính khẳng định các địa phương phải tự lo trả cho doanh nghiệp chứ ngân sách nhà nước sẽ không trả nợ thay. Theo tinh thần chỉ đạo của Thủ tướng thì mỗi năm, số nợ đọng sẽ được các địa phương thanh toán tối thiểu 30% tổng số nợ để đến năm 2015 thì nợ được xử lý dứt điểm.

Vì thế, nên chăng trong nghị quyết thi hành Luật Phá sản (sửa đổi), Quốc hội nên đưa ra một số ngoại lệ về tình trạng phá sản của doanh nghiệp, đặc biệt là những doanh nghiệp đang có khoản nợ phải thu từ nhà nước. Hay nói cách khác, đối với những doanh nghiệp này, có thể tạm thời dùng tiêu chí mất khả năng thanh toán khi tổng tài sản có cùng các khoản nợ phải thu thấp hơn toàn bộ các khoản nợ phải trả. Cũng trên tinh thần này, ngoại lệ này có thể mở rộng thêm là nếu doanh nghiệp được coi là lâm vào tình trạng phá sản có thể không bị tuyên phá sản bắt buộc nếu chứng minh được điều này.

(Để xem bản scan, hãy nhấn vào đây